Khi nào nợ công trở nên quá lớn? Bằng chứng phi tuyến từ các quốc gia phát triển và đang phát triển

JEL E62, H63, O40, C33.
Manuscript code 213.1MEco.11
DOI 10.54404/jts.2026.213v.01

Abstract

Nghiên cứu này nhằm xác định ngưỡng nợ công tối ưu mà khi vượt qua đó, tác động của nợ bắt đầu chuyển sang tiêu cực, gây rủi ro cho ổn định vĩ mô và làm suy giảm tốc độ tăng trưởng. Sử dụng dữ liệu bảng động từ 74 quốc gia (25 nước phát triển và 49 nước đang phát triển) giai đoạn 2000-2023, nghiên cứu không chỉ kiểm định tác động tuyến tính mà còn phân tích đặc điểm phi tuyến nhằm xác định ngưỡng nợ công tối ưu, nơi tác động của nợ chuyển từ tích cực sang tiêu cực. Kết quả từ phương pháp S-GMM cho thấy mối quan hệ hình chữ U ngược giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế, trong đó nợ công hỗ trợ tăng trưởng khi còn dưới ngưỡng hợp lý. Tiếp theo, nghiên cứu ứng dụng mô hình Hồi quy ngưỡng bảng động (DPTR) để ước lượng chính xác ngưỡng nợ công riêng cho từng nhóm quốc gia. Kết quả cho thấy ngưỡng ước lượng là 84,38% GDP cho toàn mẫu, 111,09% GDP đối với nhóm nước phát triển và chỉ 24,01% GDP với nhóm nước đang phát triển. Phát hiện này phản ánh rõ sự khác biệt về năng lực hấp thụ nợ và hiệu quả quản trị tài khóa giữa các nhóm quốc gia, đồng thời cung cấp bằng chứng thực tiễn quan trọng để thiết kế chính sách nợ công phù hợp với từng bối cảnh phát triển.

Chia sẻ bài viết

Authors

Lê Hồng Ngọc
Khi nào nợ công trở nên quá lớn? Bằng chứng phi tuyến từ các quốc gia phát triển và đang phát triển

Files

Trích dẫn

APA

Định dạng

Published May 5, 2026
Ngày nộp bài May 5, 2026
Ngày chỉnh sửa July 27, 2026
Article Views13
Document Views11
Downloads5
Copyright Holder 2026

Cited-by Summary

DOI: 10.54404/jts.2026.213v.01

  • Citing journals 0
  • Distinct citing articles 0
  • Total citation records 0

Related

Other articles in this issue

TẠP CHÍ SỐ 213

View Issue

Chia sẻ kiến thức trực tuyến và sự sáng tạo của nhân viên: vai trò của khả năng sáng tạo và môi trường thành thạo

Bùi Thị Thanh, Phan Quốc Tấn, Lê Công Thuận…

Các nghiên cứu trước đây nhấn mạnh vai trò của kiến thức trong việc nâng cao sự sáng tạo của nhân viên (SSTCNV). Tuy nhiên, nhân viên không thể tự tạo ra mọi kiến thức cần thiết cho công việc hằng ngày. Vì vậy, họ tham g...

Read more

Tác động của căng thẳng công nghệ đến hành vi nghỉ việc thầm lặng của nhân lực ngành nhân sự và vai trò của kiệt sức công việc

Nguyễn Thị Liên, Phạm Anh Phương

Nghiên cứu sử dụng mô hình với 206 mẫu để khám phá ảnh hưởng của căng thẳng công nghệ đến hành vi nghỉ việc thầm lặng tính đến vai trò trung gian của kiệt sức công việc cho nhân lực ngành nhân sự tại Việt Nam. Dữ liệu đư...

Read more

Chuyển đổi số hệ thống quỹ tín dụng nhân dân ở Việt Nam: vai trò ngân hàng đầu mối trong thúc đẩy tài chính toàn diện bền vững

Chu Thị Hồng Hải

Nghiên cứu đo lường mức trưởng thành số của hệ thống Quỹ tín dụng Nhân dân (QTDND) và xác định khoảng trống năng lực so với ngưỡng vận hành tối thiểu. Thiết kế hỗn hợp khám phá tuần tự được áp dụng để xây dựng công cụ đo...

Read more

Nghiên cứu về ý định tái chế rác thải điện tử của người tiêu dùng: vai trò điều tiết của nhận thức về tái chế phi chính thức

Lê Bảo Ngọc, Nguyễn Hoàng Việt

Nghiên cứu này tích hợp lý thuyết niềm tin sức khoẻ và lý thuyết kiến thức - thái độ - hành vi để xây dựng một mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của kiến thức về rác thải điện tử, ý thức sức khoẻ và sự quan tâm đến môi trường...

Read more

Tác động của chất lượng trải nghiệm và giá trị cảm nhận đối với sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng tại một số chuỗi cà phê ở Hà Nội

Lê Huyền Trang, Trần Hà Anh

Nghiên cứu khảo sát 459 khách hàng tại các chuỗi cà phê ở Hà Nội nhằm kiểm định vai trò của trải nghiệm dịch vụ (EQ) và giá trị cảm nhận (CV) đối với sự hài lòng (CS) và lòng trung thành (CL). Dữ liệu được phân tích bằng...

Read more