Chất lượng thể chế, tăng trưởng kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài, tiêu thụ năng lượng tái tạo và phát thải CO2 ở Việt Nam

Manuscript code 164.1TrEM.11

Abstract

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp tiếp cận mô hình phân phối trễ tự hồi quy ARDL để phân tích tác động của chất lượng thể chế, tiêu thụ năng lượng tái tạo, tăng trưởng kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát thải CO2 ở Việt Nam trong giai đoạn 1996-2020. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong dài hạn, hiệu quả của chính phủ, kiểm soát tham nhũng, tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng tái tạo làm giảm phát thải CO2, trong khi đầu tư trực tiếp nước ngoài và đặc biệt là gia tăng dân số làm gia tăng nhanh chóng lượng khí thải CO2. Trong ngắn hạn, sự gia tăng mức tiêu thụ năng lượng tái tạo, tăng trưởng dân số và những cải thiện về thể chế làm giảm lượng khí thải CO2. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài làm tăng phát thải CO2. Nghiên cứu này xác nhận giả thuyết “nơi trú ẩn ô nhiễm” đối với Việt Nam. Dựa trên các kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất một số khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao chất lượng môi trường ở Việt Nam trong thời gian tới.

Chia sẻ bài viết

Authors

Nguyễn Thị Cẩm Vân
Chất lượng thể chế, tăng trưởng kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài, tiêu thụ năng lượng tái tạo và phát thải CO2 ở Việt Nam

Files

Trích dẫn

APA

Định dạng

Published May 16, 2022
Ngày nộp bài May 16, 2022
Ngày chỉnh sửa July 27, 2026
Article Views9
Document Views10
Downloads5
Copyright Holder 2022

Related

Other articles in this issue

Tạp chí số 164

View Issue

Đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số thị trường chứng khoán ASEAN bằng kỹ thuật ước lượng trung bình nhóm gộp

Bùi Đỗ Phúc Quyên, Nguyễn Văn Quý

Nghiên cứu này xem xét phản ứng của thị trường chứng khoán 6 nước Đông Nam Á (ASEAN) gồm Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Singapore, Philippines và Việt Nam đến yếu tố kinh tế vĩ mô trong dài hạn và ngắn hạn. Dữ liệu nghiê...

Read more

Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh tại các ngân hàng thương mại có vốn nhà nước Việt Nam.

Đặng Thị Minh Nguyệt, Phạm Thu Trang, Nguyễn Bích Ngọc

Nghiên cứu sử dụng mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM) và mô hình ảnh hưởng cố định (FEM) với bộ dữ liệu trong giai đoạn 2005-2019 xem xét các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh (HQKD) của các ngân hàng thương mại có...

Read more

Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ứng dụng đặt thức ăn trực tuyến của khách hàng tại TP. Hồ Chí Minh.

Phạm Hùng Cường, Lưu Đặng Gia Hân

Bài viết đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định lựa chọn ứng dụng đặt thức ăn trực tuyến của khách hàng tại TP. Hồ Chí Minh. Kết quả khảo sát 190 người dân sử dụng ứng dụng đặt thức ăn trực tuyến cho thấy, có...

Read more

Bùi Nhất Vương, Hà Nam Khánh Giao và Đỗ Quốc Cường- Tác động của vốn tâm lý tích cực đến hiệu quả công việc thông qua vai trò trung gian của sự hài lòng trong công việc của nhân viên kinh doanh ở doanh nghiệp bất động sản tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Unknown Author

Mục tiêu của nghiên cứu này là để khám phá ra ảnh hưởng của vốn tâm lý tích cực đến hiệu quả công việc thông qua vai trò trung gian của sự hài lòng trong công việc. Dữ liệu được thu thập từ 317 nhân viên kinh doanh bất đ...

Read more

Mối quan hệ giữa tính chất công việc, sự xung đột công việc - gia đình, gia đình - công việc, sự căn thẳng trong công việc và sự gắn kết của nhân viên với tổ chức: Tình huống nghiên cứu trong lĩnh vực Kế toán

Cao Quốc Việt, cộng sự

Nghiên cứu này điều tra mối quan hệ giữa tính chất công việc, sự xung đột công việc - gia đình, gia đình - công việc, sự căng thẳng trong công việc và sự gắn kết tình cảm đối với tổ chức của các nhân viên đang làm việc t...

Read more